LÃNH
THỔ VĂN LANG VÀ NGƯỜI ÂU VIỆT
Lĩnh Nam chích quái chép : "Vào đời vua Thành Vương nhà Chu
(1109 TCN), Hùng Vương sai bề tôi tự xưng là họ Việt Thường đem chim bạch trĩ
sang cống".
Trước đó, sử Tàu viết, đời vua Nghiêu (2353 trước CN) hoàng tử
Việt Thường dâng vua Nghiêu một con Thần Quy có 3 chân, trên lưng có khắc chữ
Khoa Đẩu, vua Nghiêu sai chép lấy gọi là Quy lịch.
Thần quy đem tiến Đào
Đường
Bắc Nam từ ấy giao bang là đầu
Đại Nam
Quốc sử diễn ca.
Trong sách Địa dư Nguyễn Trãi viết : "Thuận Hóa cổ, Việt
Thường bộ".
Theo khảo cứu của ông Aurousseau dựa trên các khai quật của Viện
Viễn Đông Bác Cổ năm 1927-1928 thì lãnh thổ nước ta vào đời Tần (Tàu) kéo dài
đến nam đèo Hải Vân.
Tiền Hán chí và Sử ký Tư Mã Thiên cũng chép rằng Triệu Đà từng
kéo quân vào tận đây và được đổi thành Tượng quận hay quận Tượng Lâm, nhưng với
truyền thống viết sử đề cao Hán của các sử gia người Hán thì giả thiết này khó
tin, Triệu Đà vào Văn Lang sâu nhất chỉ đến vùng Tiên Sơn - Bắc Ninh ngày nay.
An Dương Vương cắt đất cầu hòa, Đà rút về Phiên Ngung và cho con là Trọng Thủy
sang ở rể.
Tượng Lâm không được nhắc đến trong vài thế kỷ, cho đến năm 220,
Khu Liên tù trưởng của một dân tộc dũng mãnh, thiện chiến nổi lên giết huyện
lệnh lập nên nước Lâm Ấp sau này đổi tên thành Chiêm Thành. Kinh đô đóng ở Lâm
Ấp tức là Huế bây giờ.
Mảnh đất này trong nhiều thế kỷ là một nơi tranh giành đẫm máu
giữa hai dân tộc Việt và Cham, trở nên một mất một còn. Cho đến năm 1252, miền
đất này vĩnh viễn mới trở về Đại Việt bởi một người đẹp, Công chúa Trần Huyền
Trân, mất 2 châu Ô, Lý là bước đầu tiên dẫn đến suy tàn của Chiêm Thành.
Những giả thuyết cho rằng người Việt Nam là một trong những tộc
người bị Hán xua đuổi chạy xuống phía nam cũng không còn đứng vững. Các nghiên
cứu đều cho thấy vùng đất này là dân bản địa, có một nền văn minh rực rỡ Đông
Sơn khi mà cả châu Âu lúc đó mới là thời kỳ Tân Thạch, có nền văn minh nông
nghiệp, có phong tục, trang phục riêng, họ có thể bắt đầu từ 2 sắc tộc gần gũi
nhau là Âu Tây và Lạc Việt. Sử ký Tư Mã Thiên chép :"Tiễn phát, văn thân,
thác tý tả nhậm, Âu -Việt chi dân dã"- Cắt tóc, vẽ mình, khoanh cánh tay
khép tà áo trái, chính là dân Âu Việt.
Đất Việt giang tay đón những người từ Bắc chạy xuống, từ Đông
vào, từ Tây qua, hòa trộn với sắc dân trên đường Nam tiến để làm nên người Việt
Nam, giống như một Hợp chủng quốc vậy. Chỉ có miền đất nào đặt con người ngang
với Trời, Đất thì mới xứng là nơi ở của Đế.
TỪ LÃ
GIA ĐẾN HAI BÀ TRƯNG (Tiếp theo)
Hán Vũ Đế học vua Tần ngày trước phong Lộ Bác Đức làm "Phục
Ba tướng quân", Dương Bộc làm " Lâu thuyền tướng quân", một đại
tướng là Nghiêm (không rõ họ hay tên) làm " Qua thuyền tướng quân",
một đại tướng là Giáp và tướng Hầu Quý theo 5 đường ngày xưa của Đồ Thư vượt 5
ngọn Ngũ Lĩnh tiến về Phiên Ngung.