Thứ Năm, 16 tháng 5, 2019

ĐẠO PHẬT THỜI MẠT PHÁP


Bài của Đặng Văn Sinh
Khi mà tín ngưỡng phục hồi, đền chùa đồng loạt trùng tu tân tạo càng nhiều thì tầng lớp sư sãi, thày bùa, đồng cốt càng gia tăng để phục vụ nhu cầu tâm linh của các thượng đế thời MẠT PHÁP. Với hơn chín chục triệu chúng sinh đang chìm đắm nơi sông mê bến lú, trong số ấy, không ít kẻ mang trên vai gánh nặng nghiệp chướng vì tội báo hại đồng bào, đang ngày đêm muốn cầu thần phật giải thoát. Các nhà cai trị lúc này nắm được tâm lý đám đông đang rã hàng, bèn nhanh tay chớp thời cơ như một thứ vũ khí tinh thần lợi hại để "định hướng" phần hồn của họ. Khẩu hiệu "Tốt đời đẹp đạo" cần được hiểu từ nguyên nhân sâu xa của nó.
Phật giáo quốc doanh luôn được xem như một tổ chức chính trị xã hội ngoại vi của nhà nước toàn trị, mà ở bất cứ cấp nào, chính quyền cũng có thể thao túng bằng cách đưa người của mình vào nắm giữ chức vụ chủ chốt. Chuyện sư được cơ cấu vào cơ quan lập pháp có vẻ như nằm trong thuyết ÂM MƯU. Hòa thượng trên diễn đàn Quốc hội vung tay chém gió rất hiếu chiến "Việt Nam cũng phải hiện đại hóa quân đội mạnh như Bắc Triều Tiên" không phải là cá biệt. Có những hòa thượng vốn là nhân viên công lực hàm cấp cao tót vời, khoác áo cà sa trụ trì ở những chùa lớn theo dõi nhất cử nhất động của giới tăng ni phật tử.
Phật giáo bị quốc doanh hóa, ĐẠO và ĐỜI lẫn lộn trắng đen nên mới có chuyện các chức sắc Hội Phật giáo một tỉnh vùng Đồng bằng Bắc Bộ đấu đá nhau đến mức lén quay phim, chụp ảnh, ghi âm đưa lên mạng xã hội những hành vi đồi bại mà ngay đến những kẻ đầu trộm đuôi cướp cũng cảm thấy xấu hổ.
Có thể nói, sư trụ trì các chùa làng chưa bao giờ hư hỏng như bây giờ. Hầu hết đại đức được bổ nhiệm đều còn ít tuổi, học hành lởm khởm, đi tu như một cách kiếm sống, chứ ít người xuất phát từ niềm tin và sự ngộ đạo. Công việc đầu tiên của một sư thầy mới về chùa là đòi mua ô tô. Không hiếm trường hợp chùa nhỏ, dân địa phương nghèo, khó đáp ứng nhu cầu vật chất, sư bỏ tự, về Tỉnh hội Phật giáo đòi chuyến đi nơi khác.
Sinh hoạt của thầy chùa thời @ cũng hiện đại lắm, khác xa các bậc cao tăng tu khổ hạnh ngày xưa. Ăn chay là ví dụ một tháng đôi ba lần cho phải phép. Tôi đã chứng kiến một đại đức trụ trì chủa Q.S. phường B "thụ trai" như thế nào (thầy này đã bị dân địa phương làm đơn đuổi khỏi chùa vì có thành tích bất hảo nhưng không hiểu sao chính quyền vẫn tìm cách giữ lại). Buổi sáng, một vãi già (có hôm là vãi non) ra quán ăn gần đấy mua cho thầy tô phở bò. Buổi trưa và chiều, các bà phân công nhau nấu cơm, đương nhiên thức ăn là phải có thịt cá. Còn bia thì vô tư. Lúc nào trai phòng cũng trữ sẵn vài két. Thầy dùng xong, một phật tử rửa bát còn cô vãi non pha nước dâng lên. Điều trớ trêu là, so về tuổi tác, sư chỉ vào hàng hậu bối, nhưng bà nào cũng lễ phép gọi THẦY xưng CON!
Nói tóm lại, việc đời thầy rất sành nhưng việc đạo thì ít khi mó tay trừ những lúc liên quan đến hòm công đức. Chẳng hạn đến giờ thỉnh chuông, đã có hai ông già thay nhau chấp tác. Viết sớ, giao cho bọn bợm nhậu mặt mũi gớm guốc, xăm trổ đầy mình. Đó cũng là đám đệ tử ruột của sư mỗi khi thầy ra thành phố hát karaoke hay đóng cửa tăng phòng đánh phỏm ăn tiền.
Nhà chùa bây giờ còn khối chuyện đáng bàn mà một trong số đó là sư chủa H. cạy lưng tượng Phật tìm vàng và trầm hương; hòa thượng và ni cô trẻ ôm eo nhau cưỡi xe máy lượn vòng vèo như đôi tình nhân chính hiệu. Rồi sư bán trộm chuông chùa bị còng số tám, sư buôn ma túy phải nhập kho... Đó là còn chưa kể đến sự trơ tráo của loại sư hổ mang ở Thái Nguyên đem cả ca ve vào thiền phòng đánh bạc và hành lạc mà báo chí đã đăng tin.
Sự diệt dục đối với các hòa thượng quốc doanh thời nay chỉ là chuyện tầm phào. Cũng chính tôi đã được nghe kể rành rọt về một vụ scandal cười ra nước mắt. Vào một đêm cuối thu, khoảng đầu canh ba, sư H. trụ trì chùa T.M. nhận được cú điện thoại. Thế là vị đại đức phóng ô tô hạ sơn đến trạm xá phường B. cách đấy hơn chục cây số. Nơi ấy có một nữ y sĩ còn khá trẻ mới bỏ chồng đang trong cảnh phòng không gối chiếc. Sư ta tưởng bở liền dùng thứ ngôn ngữ BẰNG TAY giao tiếp, ai ngờ bị đối phương cho một bạt tai rồi hô hoán lên. Sau này mới rõ, hóa ra đó là cuộc gọi nhầm. Nàng y sĩ gọi bạn tình, chẳng hiểu sao lại nhảy sang số của sư.
Hầu hết các đền chùa được tu sửa hay xây mới đều hướng về một mục têu duy nhất là KINH DOANH THẦN THÁNH. Trong đó, đứng đầu là chùa Bái Đính, Chùa Hoa Yên, Chùa Hun, đền Bà Chúa Kho, đền Kiếp Bạc, thậm chí cả chùa Ba Vàng cũng không thoát khỏi sự cám dỗ của...hơi đồng nên đã phù phép ra trò cúng vong “oan gia trái chủ” độc nhất vô nhị. Những nơi này, các loại dịch vụ như tham quan, mua ấn, xóc thẻ, viết sớ, xin chữ, gửi xe..., đều được bán vé với giá không rẻ. Tất cả nguồn thu đều bổ đầu khách thập phương. Có điều đấy mới chỉ là hàng rào ngoại vi, còn bên trong nội điện thì điểm nhấn là HÒM CÔNG ĐỨC. Loại này nhà chùa hay nhà đền không được ăn một mình mà phải chia chác theo tỷ lệ với những quan chức bảo kê và chính quyền địa phương trực tiếp quản lý di tích. Nghe nói chùa Bái Đính, mỗi ngày Ban Quản lý thu về cả chục tỷ VND. Đền Bà Chúa Kho, đền Kiếp Bạc thu nhập có khiêm tốn hơn nhưng cũng không ít hơn vài trăm triệu.
Vào mùa lễ hội sau tết Nguyên Đán, là dịp cho các hòa thượng, đại đức, thầy cúng trổ tài làm phép tróc ma trừ quỷ cho thiện nam tín nữ có nguyện vọng muốn DÂNG SAO GIẢI HẠN hoặc CẦU SIÊU. Những "gói dịch vụ" này, nhẹ thì đôi ba triệu, còn nếu hoành tráng thì khổ chủ chẳng ngại móc hầu bao vài ba trăm triệu để mua lấy sự bình yên sau khi đã vướng vào nghiệt trái. Mọi hạng mục "cúng dàng" đều có giá của nó. Không ai mặc cả với Phật. Vì thế các hòa thượng thi nhau chặt chém mà lương tâm (nếu còn một chút) chả cần phải áy náy.
Giới tăng lữ Phật giáo đều mang họ THÍCH. Họ này bắt nguồn từ Trung Quốc truyền sang Việt Nam từ cả ngàn năm trước. Sau khi nhập tự, xuống tóc, mỗi tăng ni được đặt cho một pháp danh. Ví dụ như Thích Thanh Tứ, Thích Thanh Quyết, Thích Trí Quang, Thích Diệu Tâm v.v... Đến đây lại có sự ngược đời. Hình như từ lâu, nội hàm của HỌ PHẬT đã bị biến dạng trở thành một từ loại chỉ sự ham muốn của con người, được dân gian hóa thành chuyện tiếu lâm là THÍCH ĐỦ THỨ. Mà kẻ mang danh là tu hành lại thích đủ thứ thì cái đạo ấy gọi là đạo gì nếu không phải là ĐẠO TẶC?
Cuối cùng vẫn phải quay về chuyện nhà tu hành THÍCH ĐỦ THỨ ở chùa Q.S., phường B đã nhắc đến ở phần trên. Vị đại đức này có cái đức đáng quý là rất thích xem video "tươi mát", thích chơi phỏm và năng lui tới các quán karaoke. Vì thích tiêu sài rộng rãi nên hòm công đức lúc nào cũng rỗng thành ra nhiều khi đâm kẹt. Biết vậy, các vãi già, vãi non bàn nhau "bí mật" bổ sung để nhà chùa đỡ "viêm màng túi". Xem ra "thầy" cũng biết ý, thỉnh thoảng lại giả vờ bỏ quên chiếc ví lép ở đầu giường.
Sư trẻ, mà các vãi, nhất là vãi non lại quá "sùng đạo", tranh nhau chăm sóc thầy sinh ra bất hòa vì ghen tức, đến nỗi sân chùa trở thành nơi khẩu chiến thường xuyên giữa các nữ thí chủ. Lúc lâm trận, chẳng còn thứ từ ngữ thô tục nào họ không văng vào mặt nhau giữa thanh thiên bạch nhật.
Đại loại một số chùa chiền, đền phủ cùng sư sãi và đám tín đồ mê muội của đạo Thích Già thời MẠT PHÁP những nơi tôi biết là như vậy. Có thể ở vùng trung châu này vẫn còn những ngôi chùa chưa bị thương mại hóa, những bậc chân tu đạo cao đức trọng hiểu thấu lẽ huyền vi của tạo hóa, nhưng phải mất nhiều công sức may ra mới tìm được. Buồn thay!
Tháng trọng đông, ngày lành
Đ.V.S.

Thứ Ba, 14 tháng 5, 2019

NỖI BUỒN NGÀY PHẬT ĐẢN



Hôm qua tôi có lướt qua ti vi đang chiếu lên cảnh các “Mỹ Nữ”, nhẩy múa chào mừng ngày Phật Đản. Phía dưới có hàng trăm các Sư- Tăng mặc áo cà sa, đang dán mắt nhìn lên sân khấu. Nơi mà các “Mỹ Nữ” đang uốn éo theo điệu nhạc, để nhẩy múa phơi bày cho các Sư - Tăng xem...
Tại sao tôi lại nói các Sư - Tăng xem, mà không nói gì đến quan chức cũng ngồi đấy xem..???
Quan chức tôi sẽ nói sau bây giờ tôi xin nói vài điều về Sư - Tăng..
- Đã là Sư là Tăng hay tóm lại bất kể những ai khi quyết định đi Tu là phải Thọ Giới, bởi vì Giới mới quyết định việc Tu của mỗi cá nhân.
+ Ngũ Giới
+ Bát Trai Quai Giới
+ 12 Giới của Tiểu
+ 250 Giới Tỳ Kheo
+ 348 Giới Tỳ Kheo Ni..
Đây là chỉ giới thiệu qua cho mọi người biết sơ qua về Giới, vì đã đi tu chỉ phụ thuộc vào Giới ( chứ không phải phụ thuộc vào bằng cấp tiến sĩ Phật Học, như nhiều danh thiếp hay chức danh mà người ta vẫn nói ).
Về Ngũ Giới thì tôi bỏ qua không nói, nhưng tất cả những vị nào Thọ Bát Trai Quai Giới ( như Trư Bát Giới - tuy là thân Con Lợn nhưng cũng Thọ được tám Giới, nên mới gọi là Trư Bát Giới...) thì đều phải biết rằng...
+ Không xức dầu thơm ( nước hoa )
+ Không nằm giường cao ( không đệm êm..)
+ Không nghe nhạc hoặc không được xem các “Mỹ Nữ” hát ca nhẩy múa...
Nhưng quý vị nhìn xem có mấy trăm Sư Tăng mặc cà sa trên ti vi, đều chăm chú xem ca múa nhạc trực tiếp bằng nhục thân. Mà một điểu chắc chắn mấy trăm vị Sư Tăng đấy nếu hỏi Thọ Giới, thì có thể khẳng định 100% họ đều tự hào nói là mình đang Thọ Giới Tỳ Kheo ( hoặc Tỳ Kheo Ni )...
Mà quý vị có biết rằng chỉ cần Thọ Giới Bát Quai Trai Giới thôi, thì họ đã không được xem biểu diễn xác thịt rồi. Nghĩa là họ Thọ đến Tỳ Kheo Giới, thì họ thừa biết là chính họ đang Phạm Giới đến nhường nào..
Có thể nói đây là một sự Phá Giới có tổ chức một sự báng bổ về Phật Giáo, một điều rất đau lòng đối với những bậc CHÂN TU của thời Mạt Pháp ngày nay...
Phải chăng những vị Sư này tự cho mình cái quyền được Xả Giới, để được tận hưởng những gì đời thường của con người trong mấy ngày này. Và họ những vị Sư Tăng kia đã lấy cớ mượn danh ngày Lễ Phật Đản, để được tận hưởng vui thú thoả mãn cái “CON THÚ” ẩn sâu trong “NGƯỜI TU” của chính họ..??
Như ở đoạn trên tôi chỉ nói cho các quý vị về Sư Tăng, chứ tôi không nói gì về quan chức. Vì quan chức chỉ là quan chức không phải người tu hành, nên không Thọ Giới gì cả ( ai Thọ Giới gì thì tự biết ) nên họ không cần phải kiêng tránh gì hết....

Từ Bái Đính đến Tam Chúc, và…


Phạm Lưu Vũ


Năm 2014, Xuân Trường đã dùng Đại lễ Phật Đản quốc tế để quảng bá cho Bái Đính, như một sự “nghiệm thu” tâm linh để từ đó đến nay, Bái Đính khổng lồ, nơi lầu các của chư tăng, chốn bồng lai của quan chức, chỗ cúng tiền, hành xác của khách thập phương… đã trở thành cỗ máy in tiền không phải đóng thuế của doanh nghiệp. Xuân Trường, kẻ rất giỏi biến giang sơn cẩm tú của đất nước thành vườn riêng nhà mình, để xây la liệt những chùa chiền, tùng lâm, điện các… thực chất là trục lợi trên tâm linh, là hủy hoại Phật Pháp, là biến dạng Tam Bảo và làm hổ lốn tín ngưỡng…
Năm nay Xuân Trường cũng sử dụng Đại lễ Phật Đản quốc tế (Vesak 2019) để rầm rộ quảng bá và “nghiệm thu” Tam Chúc, một “tùng lâm” còn mênh mông hơn Bái Đính, vì chiếm dụng giang sơn đã lên tới 4000 ha, kệch cỡm hơn Bái Đính, vì tham vọng đã vươn tới thiên thạch, đáng sợ hơn Bái Đính, vì đã biến một bộ phận Phật Giáo quốc tế, quốc nội thành công cụ quảng cáo cho mình.
Biển bạc đã trở thành quá khứ, rừng vàng đang biến mất dần dần. Chưa dừng lại ở đây, con bạch tuộc Xuân Trường đã thò cái vòi xôi thịt của mình ra Hồ Núi Cốc, phả hơi đồng ra nhòm ngó thắng cảnh chùa Hương… Muốn nhập nhèm trộm làm Đại trưởng giả của Phật Giáo, như Ngài Tu Đạt Đa, như Thái tử Kỳ Đà, như Úc Già Trưởng Giả ngày xưa đây. Vậy hãy lấy bốn nhiếp sự của Đức Phật dạy các đệ tử tại gia ra, xem ông ta “hành” như thế nào?
Nhiếp sự là nguyên tắc hành đạo của đệ tử tại gia. Bốn nhiếp sự gồm: Bố thí, Ái ngữ, Lợi hành và Đồng sự. Bốn nhiếp sự ấy là cỗ xe chuyên chở cả thế gian, hẹp thì duy trì Tăng đoàn, rộng thì hòa hiệp đại Chúng, rộng nữa thì lợi ích cho tất thảy chúng sinh…
Thứ nhất Bố thí, là đem của cải của mình ra cúng dường Tam Bảo, là bố thí không phân biệt cho mọi chúng sinh, tất cả đều phải bằng của cải của mình. Nay Xuân Trường xây chùa bằng tiền của dân, làm đường bằng vốn nhà nước, dùng đủ mọi thủ đoạn để chiếm đoạt ngân sách, chỉ riêng dự án nạo vét sông Sào Khê, từ 72 tỷ đồng nâng lên thành 2.600 tỷ đã đủ nói lên điều đó. Chưa kể những việc quy hoạch, làm hạ tầng xung quanh… đều do nhà nước bỏ tiền, để phục vụ cho Bái Đính, Tam Chúc… để Xuân Trường kinh doanh, móc túi khách hành hương, bất kể kẻ viếng chùa hay người đi du lịch. Thế khác nào ăn cắp để cúng dường, thì còn gọi là “bố thí” nữa hay không?
Thứ hai Ái ngữ, là hành khẩu nghiệp bằng cách nói lời thân thương, an ủi đồng loại, tán thán người thiện, lên án kẻ ác… Là hướng đạo cho kẻ ngu si, thuyết pháp cho người loạn trí, giảng đạo lý cho lũ quan tham… Xuân Trường đã thực hiện một tí ti món “nhiếp sự” này bao giờ chưa? Than ôi, một người chuyên toa rập với quan trường để chiếm đoạt đất đai, để đục khoét ngân sách… thì thân lúc nào cũng hiện lên tướng con buôn, tâm lúc nào cũng toát ra mùi gian trá… làm sao có thể thốt ra nổi một lời tử tế, nói gì đến Ái ngữ, đạo lý…
Thứ ba Lợi hành, là làm những việc tốt, chỉ những việc tốt có lợi cho mọi người, có lợi cho đất nước, cho tất thảy nhân loại, chúng sinh… Không quản cứu giúp bất kì ai gặp nạn, sẵn sàng dẫn mọi kẻ ác ra khỏi nghiệp địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Người chưa tin thì thị phạm cho tin, người tin rồi thì làm cho đức tin bền chắc, kẻ phá giới thì tìm phương tiện ngăn chặn, người keo kiệt thì khuyến khích thí xả, hạng tham, sân thì hóa độ tùy duyên… Chao ôi, kể ra những điều này mà nghĩ đến những việc làm của Xuân Trường, thì trăm điều chưa chắc đã có lấy một, thậm chí toàn thấy ngược lại, nói chi đến cái sự “lợi hành”.
Thứ tư Đồng sự, là đoàn kết tăng đoàn thì Xuân Trường xây lầu vàng, điện ngọc khiến các sư tranh nhau, là bình đẳng xã hội thì Xuân Trường chỉ làm tăng khoảng cách giầu nghèo, đẩy dân ra khỏi những nơi chôn rau cắt rốn của mình. Là hỗ trợ ngũ giới thì nhìn vào Xuân Trường, chỉ thấy khuyến khích ngũ dục, là hướng tới các quả thánh đạo, Bồ Đề thì nhìn vào Xuân Trường, chỉ thấy cắm ngược đầu vào chỗ phàm phu. Là nhân cách giản dị, giúp mọi người cùng thăng hoa đạo pháp thì Xuân Trường dùng sự khuếch trương, lòe loẹt, hổ lốn và phi pháp, khiến ai cũng nổi cơn ghen tị, tranh giành…
Chỉ cần hành trì một cách nghiêm cẩn bốn nhiếp sự nói trên của đệ tử tại gia, đã đủ khiến các vị Đại Trưởng Giả thời Phật tại thế đi vào kinh điển. Hàng bạch y (tại gia) như các Ngài còn vượt xa khối đệ tử xuất gia. Nay làm ngược lại bốn nhiếp sự tới chừng ấy, thì Xuân Trường rõ ràng là hạng bạch tuộc trưởng giả rồi còn gì.



NHÀ VUA VÀ 5 ĐỒNG TIỀN VÀNG MUA TÁO


Phuong Le

Nhà vua ngồi trong cung điện và nghĩ, năm quả táo – năm đồng tiền vàng, một quả táo – một đồng tiền vàng, mà dân chung tranh giành để mua.

Một ông vua ngồi trong hoàng cung và nghe thấy tiếng rao ngoài cửa sổ: “Táo nào, táo ngon đây!”

Nhà vua nhìn ra thấy một ông già với một chiếc xe đẩy bán táo, và xung quanh – đám đông người mua.

Vua thấy thèm ăn hoa quả bèn gọi quan nhất phẩm đến và nói: “Đây là năm đồng tiền vàng, hãy đi mua táo cho ta”.
 
Quan nhất phẩm cho gọi quan cửu phẩm và nói: “Đây là bốn đồng tiền vàng, hãy chạy đi mua táo”.

Quan cửu phẩm gọi cho quan bộ lễ và nói: “Đây là ba đồng vàng, hãy chạy đi mua táo”.
Quan bộ lễ gọi đội trưởng thị vệ và nói: “Đây là hai đồng tiền vàng, hãy chạy đi mua táo.”

Đội trưởng thị vệ gọi một người lính canh và nói: “Đây là một đồng tiền vàng, hãy chạy đi mua táo”.

Tên thị vệ bước ra và tóm cổ ông già: “Này, ông đang hò hét cái gì vậy? Đây là chợ hay là hoàng cung?” “Xéo khỏi đây ngay, tịch thu hết táo”.

Thị vệ quay trở về và nói: “Đây, thưa đội trưởng, một món hời. Một đồng tiền vàng được một nửa xe táo”.

Đội trưởng đi đến quan bộ lễ: “Đây, thưa ngài, hai đồng tiền vàng được một bao tải táo”.
Quan bộ lễ đi đến gặp quan cửu phẩm: “Đây, ba đồng tiền vàng được một túi táo”.
Quan cửu phẩm đến gặp quan nhất phẩm: “Đây, bốn đồng tiền vàng được một nửa túi táo. Biết làm sao được, thưa ngài, lạm phát mà.”

Quan nhất phẩm xuất hiện trước mặt nhà vua: “Đây, thưa bệ hạ, như ngài đã ra lệnh – năm quả táo đây ạ.”

Nhà vua ngồi trong cung điện và nghĩ: “Năm quả táo – năm đồng tiền vàng, một quả táo – một đồng tiền vàng, mà dân chung tranh giành để mua.

Vậy cần phải tăng thuế đánh vào dân chúng!”